Dân tộc Khơme
クメール族
Dân tộc Khơme có hơn 1.319.000 người (2019), sống chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long. Nghề nông chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng.
Quan hệ dòng họ và hệ thống thân tộc Khơme ngày càng biểu hiện tính phụ hệ, nhưng tàn dư mẫu hệ vẫn còn khá rõ. Gia đình nhỏ, dòng họ, xóm làng (phum sóc) là nền tảng của xã hội cổ truyền. Văn hóa Khơme thể hiện sự kết tinh của ba yếu tố: nổi bật là Phật giáo Tiểu thừa (Theravada), tiếp đến Bàlamôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Các Phật thoại, truyện cổ, nghi lễ, huấn ca... được ghi chép trên lá buông (xatra) - một loại di sản đặc sắc.
Văn hóa Khơme là sự tiếp nối di sản rực rỡ của văn hóa Óc Eo (thế kỷ II-VII) và là chủ thể ở đồng bằng sông Cửu Long cho đến trước thế kỷ XVII. Lễ hội đua ghe ngo, dân vũ, các hình thức sân khấu như dù kê (lakhon bassac), rôbăm và dì kê là những sinh hoạt văn nghệ nổi tiếng. Sự cộng cư giữa người Khơme với người Việt, Hoa và Chăm đã tạo nên vùng văn hóa Nam Bộ giàu bản sắc.
クメール(Khơme)民族は2019年時点で131万9千人超で、主にメコンデルタに居住する。農業は共同体の経済・文化・社会生活の全体を規定している。
クメールの氏族関係と親族制度は次第に父系的特徴を示すようになっているが、母系の残存もなおかなり明確である。核家族、氏族、村落(phum sóc)が伝統社会の基盤である。クメール文化は三要素の結晶として表れ、中心は上座部仏教(Theravada)、次いでバラモン教、そして民間信仰である。仏教説話、昔話、儀礼、教訓歌などはブオン葉(lá buông)に記録され(xatra)、独特の遺産となっている。
クメール文化はオケオ文化(2〜7世紀)の輝かしい遺産を継承し、17世紀以前までメコンデルタの担い手であった。ゴー・ンゴー船競漕祭、民俗舞踊、舞台芸能のズーケー(dù kê/lakhon bassac)、ロバム、ディーケーなどは著名な芸能活動である。クメールがベト(Kinh)、ホア(Hoa)、チャム(Chăm)と共住することで、特色豊かな南部文化圏が形成された。