Các dân tộc nhóm Nam Đảo miền núi
南島語系山地諸民族
Ở Tây Nguyên và miền núi các tỉnh từ Phú Yên vào Bình Thuận có 4 dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo: Giarai, Êđê, Raglai và Churu, với hơn 1 triệu người (2019). Sự phân bố này nối liền với địa bàn cư trú của người Chăm, tạo thành một vùng văn hóa Nam Đảo ở Đông Dương. Họ bảo lưu truyền thống mẫu hệ và dấu tích văn hóa vùng biển.
Theo nghiên cứu khoa học, tổ tiên các dân tộc ngữ hệ Nam Đảo đã di cư từ Nam Trung Quốc xuống Thái Bình Dương. Họ có mặt ở Tây Nguyên từ rất sớm, nhưng chắc chắn là sau cư dân nhóm ngôn ngữ Môn–Khơme và trước khi hình thành vương quốc Chăm Pa. Nguồn sống chính là lúa rẫy, gieo trồng theo chế độ hữu canh, bỏ hóa đất lâu năm rồi mới canh tác trở lại. Ruộng nước trước đây chỉ xuất hiện ở một số nơi có đất sinh lầy.
Tổ chức xã hội tự quản cổ truyền là làng, tập hợp các đại gia đình mẫu hệ. Việc hình thành các gia đình nhỏ nay đã diễn ra phổ biến. Đời sống vận hành theo phong tục. Tính cộng đồng làng rất cao, nhưng sự phân hóa giàu nghèo trong dân làng cũng đã rõ.
西原(Tây Nguyên)およびフーイエン省からビントゥアン省にかけての山地には、南島語系(Nam Đảo)に属する4民族――ジャライ(Giarai)、エデ(Êđê)、ラグライ(Raglai)、チュル(Churu)が居住し、2019年時点で人口は100万人超である。この分布はチャムの居住域と連続し、インドシナにおける南島文化圏を形成する。彼らは母系制の伝統と海域文化の痕跡を保持している。
科学研究によれば、南島語系諸民族の祖先は中国南部から太平洋へ移動した。西原には非常に早い時期から存在したが、モン=クメール語系住民の後であり、チャンパ王国成立以前であることは確実である。主な生業は陸稲焼畑で、輪作(休閑を長く置いたのち再び耕作)により播種・栽培する。かつて水田は、湿地(đất sinh lầy)のある一部地域にのみ見られた。
伝統的な自治的社会組織は村であり、母系の大家族の集合体である。現在では核家族化が一般化している。生活は慣習に基づいて営まれる。村落共同体性は非常に高いが、村内の富裕・貧困の分化も明確になっている。