Các dân tộc Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên
モン=クメール語系(チュオンソン—西原)
Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn–Khơme ở vùng Trường Sơn–Tây Nguyên có 15 dân tộc, với dân số chung hơn 1,4 triệu người (2019), phân bố từ miền núi Quảng Bình ở phía bắc đến các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai ở phía nam.
Họ có truyền thống canh tác lúa rẫy theo hình thức quay vòng các thửa đất, mỗi năm làm một vụ, bỏ hóa lâu năm rồi mới khai phá trở lại. Một số nơi có ruộng sinh, canh tác theo lối dùng trâu quần ruộng và sạ giống. Trong xã hội, tập tục mẫu hệ còn đậm nét ở vùng trung và nam Tây Nguyên, như người Mnông, Coho...; chế độ phụ hệ đã xác lập ở vùng Bắc Trường Sơn: Cơtu, Tàôi, Bru-Vân Kiều; có những nơi lại không thuộc hẳn về hình thức nào, như người Hrê, Gié-Triêng...
Vốn văn hóa cổ truyền thuộc loại hình truyền khẩu, đặc sắc và phong phú, thể hiện qua sử thi, truyền cổ, luật tục... Lễ hiến sinh trâu, lễ đoạn tang, kiến trúc nhà dài, nhà rông, nhà mồ đều là truyền thống đặc sắc. Đặc biệt, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại.
チュオンソン—西原地域のモン=クメール語系(Môn–Khơme)には15民族が含まれ、2019年時点の総人口は140万人超。北はクアンビン省山地から南はタイニン省・ドンナイ省に至るまで分布する。
彼らは、区画を循環させて陸稲焼畑を耕作する伝統を持ち、毎年1作を行い、長期間休閑にした後に再び開墾する。地域によっては、常湿田(ruộng sinh)があり、牛で田を踏みならし(trâu quần ruộng)、散播(sạ giống)する方法で耕作する。社会制度としては、中・南西原(Mnông、Coho など)では母系的慣習が色濃く残り、北チュオンソン(Cơtu、Tàôi、Bru-Vân Kiều)では父系制が確立している。一方で、Hrê、Gié-Triêng などのように、いずれにも完全には属さない地域もある。
伝統文化は口承型に属し、叙事詩、昔話、慣習法などとして特色豊かに表れる。水牛供犠の儀礼、喪の区切りの儀礼、長屋・ロングハウス(nhà rông)・墓屋(nhà mồ)の建築はいずれも独特の伝統である。特に、西原のゴング文化空間はユネスコにより人類の無形遺産として認定されている。