jpvn.org
民族学博物館・説明パネル(ベトナム語/日本語)

Các dân tộc Môn – Khơme miền Bắc
モン=クメール語系(北部)

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam · Bảng giới thiệu (Văn bản là OCR) ベトナム民族学博物館・説明パネル(本文はOCR転記)

Nhóm ngôn ngữ Môn–Khơme ở miền Bắc có 5 dân tộc: Xinhmun, Mảng, Kháng, Khơmú và Ơđu; dân số hơn 141.000 người (2019). Đây là những cư dân sống lâu đời ở vùng núi giữa và vùng cao từ tây bắc Bắc Bộ đến miền tây tỉnh Nghệ An.

Họ canh tác lúa rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, phát triển nghề đan mây, tre; các hoạt động săn bắn, hái lượm trên rừng và bắt cá dưới sông suối có ý nghĩa kinh tế đáng kể. Họ có truyền thống ở nhà sàn, mái nhà hình mai rùa và trên đầu nóc có trang trí hình sừng trâu hoặc ngọn dương xỉ. Các gia đình nhỏ phụ hệ quây tụ thành từng bản trên sườn núi. Riêng người Mảng cư trú phân tán và nhà cửa đơn sơ, dấu ấn của lối sống du canh du cư.

Do quá trình chung sống lâu đời trên cùng địa bàn, văn hóa Thái đã xâm nhập vào mọi mặt cuộc sống của các cộng đồng cư dân này. Đồng thời, cũng không ít thành tố văn hóa truyền thống của họ đã hội nhập vào đời sống của người Thái, thể hiện ở kiến trúc và trang trí nhà cửa cũng như qua trang phục và trong một số truyện cổ.

北部のモン=クメール語系(Môn–Khơme)には、Xinhmun、Mảng、Kháng、Khơmú、Ơđu の5民族が含まれ、2019年時点で人口は14万1千人超である。これらは北西部からゲアン省西部に至る中山・高山地帯に古くから居住してきた人々である。

彼らは陸稲焼畑を耕作し、家畜・家禽を飼育し、籐や竹の編組(đan mây, tre)を発達させてきた。森林での狩猟・採集や河川での漁撈も、重要な経済的意義を持つ。住居は高床式が伝統で、屋根は亀甲(mai rùa)形、棟には水牛の角またはシダの芽先の形を飾る。父系の核家族が山腹の村(bản)を形成して集住する。マング(Mảng)だけは分散居住で家屋も簡素であり、移動耕作・移動居住の生活様式の痕跡が見られる。

同じ地域で長く共住してきた結果、タイ文化はこれら共同体の生活のあらゆる側面に浸透している。同時に、彼らの伝統文化の要素も少なからずタイの生活に取り入れられ、家屋の建築・装飾、衣服、いくつかの民話などに表れている。